Baroque là một phong cách nghệ thuật bắt nguồn từ Phục Hưng Ý, sau đó lan ra khắp châu Âu và cả những thuộc địa ở Tân thế giới cho tới cuối thế kỷ 18. Nghệ thuật Baroque được đánh dấu bằng cuộc cách mạng ở thế kỷ 17 và mở đầu cho thời kỳ khai sáng. Baroque này nở nhờ và phát triển nhờ các nhân tố là nhà thờ, hoàng gia và tầng lớp thị dân.
Nghệ thuật Baroque phát triển ở nhiều nơi thuộc châu Âu. Một trong những trung tâm lớn nhất là xứ Flandre, vùng đất ngày nay bao gồm Bỉ, Hà Lan và một phần nước Pháp. Rất nhiều họa sĩ Baroque nổi tiếng sinh sống ở xứ Flandre: Peter Paul Rubens, Rembrandt... Đây cũng là một thời kỳ hoàng kim của vùng đất này.
Bước sang thời kỳ Baroque (thế kỷ 17), trung tâm hội hoạ phương Tây dần chuyển ra ngoài nước Ý sang Pháp và Hà Lan. Tuy nhiên ở Ý và Tây Ban Nha đã có hai họa sĩ rất lớn:
Michelangelo Merisi da Caravaggio (1571-1610), danh hoạ Ý có tài năng sớm nở với các tác phẩm mới lạ nhưng chậm được thừa nhận. Ông chết khá trẻ, để lại giai thoại về những mối tình đồng tính luyến ái, tính khí bạo lực dữ dằn và những đợt bị tống giam vào tù ngục.
1648 Velazquez: Venus
Diego Velasquez (1599-1660), hoạ sĩ cung đình của vua Tây Ban Nha Philip IV, có ảnh hưởng rất lớn đến những trường phái hội hoạ hiện thực và ấn tượng sau này. Các bức tranh vẽ trong thời kỳ 1617-1623 của Velazquez chịu ảnh hưởng đậm nét từ chính Caravaggio.Các hoạ sĩ Baroque người Hà Lan
Từ sau khi giành độc lập khỏi Tây Ban Nha năm 1581, nước Cộng Hoà Hà Lan bé nhỏ nhưng rất giàu đã trải qua "Kỷ nguyên Vàng" - một thời kỳ tiến triển chưa từng thấy với những cây cọ kỳ tài như Rembrandt van Rijn, Anthony Van Dyck, Johannes Vermeer và Frans Hals. Ngoài ra còn 1 loạt họa sĩ: Hendrick Avercamp (1585–1634), Gerard ter Borch (1617–1681), Adriaen Brouwer (1605–1638), Johannes Mijtens (1614–1670), Dirck van Baburen (1594–1624), Bartholomeus van der Helst (1613–1670), Jan Steen (1625–1679), Pieter Jansz. Saenredam (1597–1665), Gerrit van Honthorst (1590–1656), Gabriël Metsu (1629–1667), Pieter de Hooch (1629–1684), Judith Leyster (1609–1660), Jacob Isaakszoon van Ruisdael (1628–1682), Aelbert Cuyp (1620–1691), Pieter Claesz (1597-1660), Abraham van Beijeren (1621–1690), Esaias van de Velde (1587–1630), Willem Claeszoon Heda (1594–1680), Willem van Aelst (1627–1682), Frans Jansz Post (1612–1680), Nicolaes Maes (1634–1693), Jan Weenix (1639–1719) v.v..
Anthony Van Dyck (1599-1641), danh hoạ xứ Flamand, từng là học trò của Piere Paul Rubens. Năm 1633 ông được mời làm hoạ sỹ của vua Charles I nước Anh. Van Dyck thường được coi là người đặt nền móng cho trường phái chân dung của nước Anh.
Đáng nhớ nhất là Rembrandt van Rijn (1606-1669), một người Flamand khá đặc biệt so với phần lớn các danh hoạ khác vì ông chưa bao giờ đặt chân tới nước Ý. Đây có lẽ là hoạ sĩ đa tài nhất của Hà Lan thế kỷ XVII. Ông vẽ đủ mọi thể loại: chân dung, khoả thân, sơn dầu, tranh khắc, và đủ mọi đề tài: lịch sử, tôn giáo, với một phong cách hiện thực sống động ít ai có thể sánh kịp. Ngày nay tranh của ông chủ yếu bày ở Bảo tàng Rijksmuseum (Amsterdam, Hà Lan).
Johannes Vermeer(1632-1675) sống chủ yếu tại thị trấn quê nhà Delft và vẽ không nhiều tác phẩm. Năm 2003 đạo diễn Peter Webber đã cho dựng lại một phần cuộc đời Vermeer trong cuốn phim xuất sắc mang tên bức tranh GIRL WITH A PEARL EARRING (Cô gái đeo khuyên ngọc trai) với nữ diễn viên Scarlett Johansson. Tuy nhiên, cuộc đời của Vermeer dường như chưa bao giờ ổn định. Khi qua đời, ông để lại cho vợ và mười một người con một món nợ. Sau khi bị lãng quên gần hai thế kỷ, năm 1866 nhà phê bình nghệ thuật người Pháp Thoré Bürger đã cho xuất bản một khảo luận về 66 bức tranh coi là của Vermeer (song chỉ có 35 bức được xác nhận). Từ đó, danh tiếng của Vermeer đã nổi lên nhanh chóng và hiện nay được đánh giá là một trong những hoạ sĩ vĩ đại nhất của thời kì đó. Ông nổi tiếng với cách xử lý và sử dụng điêu luyện ánh sáng trong các tác phẩm mang phong cách hiện thực của mình.
Frans Hals (khoảng 1580/85-1666), hoạ sĩ Hà Lan. Một trong những hoạ sĩ nổi tiếng về vẽ chân dung. Là hoạ sĩ Hà Lan đầu tiên không chịu ảnh hưởng của nghệ thuật Ý thời Phục Hưng. Cho tới 1640, ông vẽ màu tươi sáng, sau đó thiên về đen và trắng nhiều hơn trên nền nâu xám. Hanxơ có biệt tài thể hiện nụ cười tự nhiên của những thị dân đương thời, khác mọi hoạ sĩ. Ngày nay tranh của ông chủ yếu bày ở Bảo tàng Frans Hals Museum (Haarlem, Hà Lan).
Các hoạ sĩ Baroque người Pháp
Hội hoạ phương Tây thời Baroque cũng rất nổi tiếng với các hoạ sĩ người Pháp, trong đó trội lên Poussin, Le Brun và De Champaigne:
Nicolas Poussin (1594-1665), một hoạ sĩ thuộc trường phái cổ điển. Các tác phẩm hội hoạ của ông chủ yếu gồm tranh phong cảnh giàu chất trữ tình, thường có nét vẽ trong sáng, cấu trúc và trật tự khoáng đạt, màu sắc phong phú và đa dạng. Cho đến thế kỷ 19 và 20, Poussin vẫn là một trong những nguồn cảm hứng sáng tạo cho những hoạ sĩ phái Tân cổ điển như Jacques-Louis David và thậm chí cả hoạ sĩ phái Hậu ấn tượng Paul Cézanne. Poussin dành phần lớn thời gian sự nghiệp tại Roma, chỉ trừ một khoảng thời gian ngắn khi Hồng y Richelieu yêu cầu ông trở lại Pháp làm hoạ sĩ cho nhà vua.
Charles le Brun (1619-1690) hoạ sĩ cung đình của ông vua "Mặt trời" Louis XIV. Ông từng chịu trách nhiệm trang trí phòng trưng bày mang tên thần mặt trời Apollo nay thuộc bảo tàng Louvre và phòng Gương xa hoa ở cung điện Versailles.
Philippe de Champaigne (1602-1674).
Ngoài ra còn có các họa sĩ Pháp khác như Valentin de Boulogne (1591–1632), Laurent de La Hyre (1606–1656), Georges de La Tour (1593–1652), anh em Le Nain: Antoine Le Nain (1599–1648), Louis Le Nain (1593–1648), Eustache Le Sueur (1617–1655), Claude Lorrain (1600–1682), Nicolas Mignard (1606–1668), Jean-Antoine Watteau (1684–1721), v.v..
Nghệ thuật Baroque cũng không chỉ gói gọn trong hội họa. Nó phát triển cả trong điêu khắc, âm nhạc, kiến trúc, văn học....
Anthony van Dyck-Tự họa (1635), National Trust, London
Anthony van Dyck-Tự họa
Charles Le Brun-Tự họa
Philippe de Champaigne-Tự họa
Rembrandt van Rijn-Tự họa
Tác phẩm tiêu biểu :
Abraham van Beyeren-Tĩnh vật (1667) 87 x 107cm, Royal Museum of Fine Arts
Esaias van de Velde-Cảnh mùa đông (1623) 26 x 31cm, The National Gallery, London
Frans Hals-Cô gái Di gan (1628–1630) 58 × 52cm, Musée du Louvre
Frans Hals-Willem Coymans (1645) 77 x 64cm; National Gallery of Art, Washington
Georges de La Tour-Magdalena
Georges de La Tour-Sơ sinh, 76 × 91cm
Gerrit van Honthorst-Người lập nhóm bạn (1625), 71 × 104cm, Central Museum, Utrecht
Jean-Antoine Watteau-Những người chăn cừu
Jean-Antoine Watteau-Vai hề Pierrot (1718), 184 × 149cm, Louvre
Johannes Vermeer-Cô gái đeo hoa tai (1665) 44 x 39cm, Mauritshuis, The Hague
Johannes Vermeer-Cô hầu bếp (1657–1660) 46 x 41cm, Amsterdam Rijksmuseum
Judith Leyster-Hai bé trai gái và con mèo. 59 x 49cm, National Gallery, London
Laurent De La Hyre-Ẩn dụ về Số học (1650), 104 × 112cm, Walters Art Museum
Nicolas Mignard-Jules Mazarin
Nicolas Mignard-Molière, Versailles
Nicolas Poussin 1637–38-Những người chăn cừu ở Arcadie, 87 x 120cm, Louvre
Philippe de Champaigne-Hồng y Richelieu 1640, 136 × 160cm. Chancellerie des Universites de Paris
Philippe de Champaigne-Vua Anh Charles II (1653)
Rembrandt van Rijn-Bài giảng phẫu thuật của BS Nicolaes Tulpe (1632) 170 x 216cm, Mauritshuis, The Hague
Rembrandt van Rijn-Tuần tra đêm (1642) 363 x 437cm, Amsterdam Rijksmuseum
Willem Claeszoon Heda- Bữa sáng với bánh dâu dại (1631), 54 x 82cm, Dresden, Germany
Willem van Aelst-Hoa và đồng hồ (1665) 79 × 60cm
Đặc điểm chính:
Từ "Ba rốc" xuất phát từ một từ Bồ Đào Nha có nghĩa là một "viên ngọc trai không đều". Nghệ thuật thời Ba rốc quả thật có nét đặc trưng là những hình khối thật sự tương phản nhau, đối lập với nghệ thuật thời Phục hưng ca tụng sự giản dị và hài hòa. Trọn thế kỷ 17 là sự giằng co giữa những mặt đối lập không thể hòa giải. Chúng ta gặp lại sự ca ngợi cuộc sống như dưới thời Phục hưng, nhưng chúng ta cũng lại rơi vào thái cực khác với sự phủ định cuộc sống và chối từ thế giới. Dù trong nghệ thuật hay trong đời thực, cuộc sống đều bừng nở với vẻ tráng lệ chưa từng có, trong khi cùng lúc đó, các tu viên lại khuyên người ta tránh xa cuộc đời.
Một trong những khẩu hiểu của thời Ba rốc là thành ngữ la tinh carpe diem, có nghãi là "Hãy nắm lấy ngày hôm nay". Còn một thành ngữ La tinh khác cũng hay được dùng: memento mori, có nghĩa là "Hãy nhớ răng ai rồi cũng sẽ chết". Trong hội họa, điều đó càng rõ nét, bởi trong cùng một bức tranh có thể thấy cuộc sống tưng bừng trụy lạc hết sức với một bộ xương ở góc dưới cùng. Ở nhiều khía cạnh, phong cách Ba rốc có đặc trưng là tính phù hoa hoặc khoa trương. Nhưng song song với điều đó, nhiều người vẫn bị ám ảnh bởi điều ngược lại, là khía cạnh phù du của cuộc đời. Nghĩa là tất cả cái đẹp đang bao quanh chúng ta đã bị kết án phải tiêu vong một ngày nào đó.
Từ "Ba rốc" xuất phát từ một từ Bồ Đào Nha có nghĩa là một "viên ngọc trai không đều". Nghệ thuật thời Ba rốc quả thật có nét đặc trưng là những hình khối thật sự tương phản nhau, đối lập với nghệ thuật thời Phục hưng ca tụng sự giản dị và hài hòa. Trọn thế kỷ 17 là sự giằng co giữa những mặt đối lập không thể hòa giải. Chúng ta gặp lại sự ca ngợi cuộc sống như dưới thời Phục hưng, nhưng chúng ta cũng lại rơi vào thái cực khác với sự phủ định cuộc sống và chối từ thế giới. Dù trong nghệ thuật hay trong đời thực, cuộc sống đều bừng nở với vẻ tráng lệ chưa từng có, trong khi cùng lúc đó, các tu viên lại khuyên người ta tránh xa cuộc đời.
Một trong những khẩu hiểu của thời Ba rốc là thành ngữ la tinh carpe diem, có nghãi là "Hãy nắm lấy ngày hôm nay". Còn một thành ngữ La tinh khác cũng hay được dùng: memento mori, có nghĩa là "Hãy nhớ răng ai rồi cũng sẽ chết". Trong hội họa, điều đó càng rõ nét, bởi trong cùng một bức tranh có thể thấy cuộc sống tưng bừng trụy lạc hết sức với một bộ xương ở góc dưới cùng. Ở nhiều khía cạnh, phong cách Ba rốc có đặc trưng là tính phù hoa hoặc khoa trương. Nhưng song song với điều đó, nhiều người vẫn bị ám ảnh bởi điều ngược lại, là khía cạnh phù du của cuộc đời. Nghĩa là tất cả cái đẹp đang bao quanh chúng ta đã bị kết án phải tiêu vong một ngày nào đó.
Một số bức tranh tiêu biểu
































